Lịch sử

Nhân vật anh hùng thiên cổ Hàn Tín: Một trận sống mãi

Sau chiến thắng lớn ở Bành Thành, Hạng Vũ đã coi Lưu Bang trở thành mục tiêu chính của mình. Ông điều chỉnh binh lực, liên kết với các nước Tề, Triệu, Ngụy, cùng Cửu Giang vương Anh Bố chuẩn bị giáp kích Nam Bắc, đánh thẳng vào Quan Trung. Đúng vào lúc ấy, Ngụy Vương Báo thấy Lưu Bang sa sút, nổi tâm làm phản, cùng Hạng Vũ liên thủ, lên kế hoạch từ một bên tấn công Lưu Bang.

Đánh úp phá Ngụy

Lãnh địa của Ngụy Vương ở Hà Đông, tiến về phía Tây uy hiếp Quan Trung, xuôi xuống phía Nam có thể cắt đứt mối liên hệ giữa Quan Trung và Huỳnh Dương, vì vậy trước khi cùng Hạng Vũ quyết chiến, Lưu Bang phải giải quyết vấn đề của Ngụy Vương Báo. Ông trước tiên phái biện sĩ (người đi du thuyết) Lệ Thực Kỳ đi trước để khuyên nhủ. Ngụy Vương Báo bình thường hay có thái độ ngạo mạn vô lễ đối với Lưu Bang, không muốn tiếp sứ giả, Lệ Thực Kỳ đành phải trở về mà không làm được gì. Bất đắc dĩ Lưu Bang lại phải dùng Hàn Tín, bổ nhiệm ông làm Tả thừa tướng và Đại tướng, cùng Tào Tham, Quán Anh… xuất binh đánh Ngụy.

Ngụy Vương đã bố trí lực lượng phòng bị hùng hậu dọc theo sông Hoàng Hà, đề phòng nghiêm mật, không tạo khe hở cho địch tấn công. Vấn đề đầu tiên mà Hàn Tín phải đối mặt đó là làm thế nào để vượt qua sông Hoàng Hà, quân Hán chỉ có trong tay 100 chiếc thuyền cũ, nếu như cố tình vượt sông, nhất định thương vong cực lớn, thắng bại khó liệu được. Hàn Tín dùng diệu kế “Trần thuyền Bồ Bản, Mộc Anh độ quân”. Ông chia binh ra hai đường, một sáng một tối, sáng chính là đội ngũ đi theo hướng Bồ Bản, do Quán Anh dẫn đầu, một vạn binh mã và hơn một trăm chiếc thuyền bày ra trận thế như muốn vượt sang bờ bên kia. Ngụy Vương Báo thấy quân Hán dàn trận như vậy thì cũng lập tức bày trận để chuẩn bị tiếp đón.

Một đội quân khác âm thầm hành động, đi đến phía Bắc Hạ Dương (nay là Hàn Thành tỉnh Thiểm Tây) hơn một trăm dặm. Bến phà cổ ở Hạ Dương là một bến phà tốt nhất giữa Long Môn quan và Bồ Tân quan, mặt sông rộng rãi, bờ thấp nước chạy chậm, dễ dàng đi thuyền, hơn nữa có 20 dặm đồng bằng, tiện việc tập kết quân đội. Hàn Tín sau khi đến Hạ Dương, không dùng thuyền bè để qua sông, mà dùng các loại đồ chứa, chặt cây đốn củi, dùng mảnh gỗ và các bình gốm ghép lại, dùng dây cố định, chế thành bè gỗ.

Để có cuộc sống bình an và hút nhiều tài lộc, hãy tham khảo các vật phẩm phong thủy thủ công của Hòn Ngọc nhé!

Cuộc hành quân vượt sông phải chờ đến khi có một bộ phận quân địch được điều đến Bồ Bản thì mới bắt đầu, để không làm kinh động quân Ngụy, sau khi qua sông thì chạy thẳng đến ấp An, nhanh chóng đánh chiếm ấp An.

Ấp An là vị trí quân sự quan trọng, Ngụy Vương Báo không thể không gọi quân trở về để giải vây. Quân Ngụy rút lui khỏi Bồ Bản, quân Hán lập tức cho thuyền qua sông, nhanh chóng chiếm lĩnh Bồ Bản. Hai đạo quân nhà Hán lần lượt vượt sông và bao vây quân Ngụy Vương Báo tại Bồ Bản và ấp An. Dưới thành ấp An, quân Ngụy đại bại bỏ chạy, Tào Tham không ngừng theo sát. Quân Ngụy chạy đến Đông Viên, Tào Tham cũng đuổi sát đến. Tàn quân của quân Ngụy bị tiêu diệt hết, Ngụy Vương Báo cũng bị bắt sống. Tiếp theo Hàn Tín lại ra Bắc đánh chiếm Bình Dương, bình định toàn bộ địa bàn nước Ngụy, trước sau chưa đến 1 tháng, tiêu diệt nước Ngụy hùng mạnh.

Kể từ đó, mọi người gọi bến phà cổ ở Hạ Dương là “Mộc Anh độ” (bến phà gỗ và bình gốm) hoặc “Hoài m độ” (bến phà Hoài m, Hoài m Hầu là tước hiệu của Hàn Tín).

Trận “Mộc Anh qua sông” cũng là một trận chiến kinh điển trong lịch sử, không chỉ có phương thức qua sông kỳ lạ, chiến lược tác chiếc cũng rất kỳ diệu, trước tiên là “dương đông kích tây”, sau khi kích tây thì lại kích đông, khiến đối thủ hoàn toàn rơi vào thế bị động. Nói chung, một mưu kế nào đó sau khi được áp dụng thành công thì mọi người sẽ cảnh giác. Vì vậy rất khó để dùng lại chiêu cũ. Mà bậc kỳ tài quân sự Hàn Tín có thể dùng kế “ám độ trần thương” hai lần, phải nói là có một không hai.

Hàn Tín dẹp yên quân Ngụy, giải trừ mối đe dọa từ bên sườn quân Hán, khiến hậu phương Quan Trung càng ngày càng vững chắc, cũng khiến cho cuộc tấn công bên cánh phải của Hạng Vũ không thể thực hiện được, hóa giải áp lực của chiến trường Huỳnh Dương. Điều đáng nói đến là, Hàn Tín tác chiến luôn lấy phá binh làm chủ, tiêu diệt quân chủ lực của quân địch chứ không đơn thuần là chiếm lĩnh thành trì, cho nên địa bàn mà ông đã chiếm được thì đều rất vững chắc, sẽ không xuất hiện tình huống có được rồi lại mất.

Nước Ngụy vừa bị tiêu diệt, Lưu Bang lập tức phái người tới điều chuyển quân Ngụy bắt được và một lượng lớn vật tư tịch thu được, trên danh nghĩa là chi viện cho chiến trường Huỳnh Dương, nguyên nhân trọng yếu hơn là ức chế thực lực của Hàn Tín.

Đúng lúc thu phục Triệu Yến

Hàn Tín diệt Ngụy, nhổ đi cái gai sau lưng quân Hán, nhưng các nước chư hầu ở phía Bắc sông Hoàng Hà như Đại, Triệu, Yên, Tề… hùng cứ một phương, cùng nước Sở liên hợp đối kháng với quân Hán. Trận chiến trực diện của quân Hán diễn ra không thuận lợi, Huỳnh Dương hai lần thất thủ. Vất vả giằng co khiến Lưu Bang có lúc muốn từ bỏ Huỳnh Dương.

Hàn Tín phân tích hình thế khách quan, chủ động xin đi đánh giặc, mang 30.000 binh mã ra bắc đối phó với Yên, Triệu, Đại, Tề, cắt đứt con đường vận chuyển lương thực của họ và nước Sở. Nếu như thu phục được những nước chư hầu này, quân Hán đối với nước Sở sẽ hình thành hai mặt giáp công. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh Trung Quốc đề xuất một phương châm chiến lược kết hợp giữa phòng ngự trực diện kéo dài và tấn công cánh hông. Đối với chiến lược cao siêu này, Lưu Bang nhất thời còn chưa lý giải được, nhưng cũng không có lý do để phản đối, liền gật đầu đồng ý. Ông đem nước Ngụy quy về quận Hà Đông, phái Trương Nhĩ làm trợ thủ cho Hàn Tín, theo dõi hành động của Hàn Tín.

Tháng 9 năm Hán Cao Tổ thứ 2, Hàn Tín lãnh binh ra Bắc. Mục tiêu tấn công đầu tiên của ông là nước Đại. Một năm trước, Lưu Bang để cho nước Triệu xuất binh tấn công Hạng Vũ, Trần Dư đề xuất giết chết Trương Nhĩ thì mới đồng ý xuất binh. Lưu Bang liền tìm một người có dáng dấp giống như đúc và giết đi, lừa Trần Dư xuất binh trợ chiến. Về sau Trần Dư phát hiện bị lừa, liền phản bội Lưu Bang. Lúc ấy Đại vương Trần Dư không có ở nước Đại, mà đến nước Triệu làm Tướng quốc, trợ giúp Triệu vương thống trị quốc gia, việc ở nước Đại là do Tướng quốc Hạ Thuyết thay mặt quản lý. Nước Đại chỉ là nước nhỏ binh yếu, không chịu nổi một đòn, Hàn Tín tiến quân thần tốc đánh bại quân nước Đại, bắt sống Hạ Thuyết, chiếm nước Đại.

Nhưng nước Triệu và nước Đại là một, nước Triệu mới thực là có sức mạnh. Muốn bảo toàn thắng lợi tất phải tiêu diệt nước Triệu. Nhưng lúc này Lưu Bang lại phái người đến tiếp quản quân đội, bổ sung cho trận chiến Huỳnh Dương. Lần này không chỉ mang đi tù binh, mà còn phái đại tướng Tào Tham và quân của ông ấy cùng trở về Huỳnh Dương.

Hàn Tín không muốn bỏ cuộc giữa chừng, xin được phép thành lập quân đội tại chỗ tiếp tục ra Bắc tấn công nước Triệu, Lưu Bang khó mà từ chối, gọi một chút binh lực cấp cho Hàn Tín. Chỉ là chờ đến khi Hàn Tín tổ chức tốt lại binh mã thì thời cơ tốt nhất đã qua rồi, quân Triệu đã bố trí quân phòng thủ, bày trận chờ đợi.

Đất Triệu dễ thủ khó công, núi Thái Hành cao lớn hiểm trở, là một lá chắn tự nhiên, muốn vào nước Triệu thì chỉ có một lối duy nhất đó là hẻm Tỉnh Hình, một trong tám hẻm của núi Thái Hành. Nơi này là một hẻm núi lớn, hai bên vách núi sừng sững, con đường chật hẹp, xe không thể đi song song. Muốn đi qua cái hẻm núi này, quân đội tất nhiên phải xếp thành một hàng dài, đầu đuôi và giữa không thể hỗ trợ cho nhau. Chỉ cần quân Triệu bày trận ở một đầu thì kẻ địch bên ngoài khó mà vào được nước Triệu. Hơn nữa hẻm Tỉnh Hình còn có một con sông chảy xiết, điều này nghĩa là sau khi vào đất Triệu rồi mà muốn thoái lui ra là rất khó khăn.

Trần Dư muốn lập kế một mẻ tóm gọn quân của Hàn Tín, không có phái binh chặn ở hẻm núi, mà sắp đặt 200.000 quân chờ đợi ở phía Đông của hẻm núi, đợi cho đến khi quân Hàn Tín hoàn toàn qua hẻm Tỉnh Hình rồi thì mới lợi dụng ưu thế để tiêu diệt. Kế hoạch hoàn mỹ như vậy, lại bị một vị cao nhân nhìn thấy sơ hở. Người này chính là Quảng vũ quân Lý Tả Xa (cháu của Lý Mục), thuộc hạ của Trần Dư.

Lý Tả Xa cho rằng Hàn Tín thừa thắng xông đến, khí thế không thể ngăn cản. Chẳng qua đi ngàn dặm vận lương khó khăn, binh sĩ bị đói, hiện phải đốn củi nấu cơm, binh sĩ sẽ ăn không đủ no. Đây chính là điểm yếu của quân Hán. Hẻm Tỉnh Hỉnh chật hẹp, lương thực quân Hán cấp dưỡng ở phía sau. Nếu như an bài binh mã từ đường mòn chặn đứng đường cấp lương thực, chờ cho quân đội đi qua hẻm Tỉnh Hình, lại phái binh cố thủ hẻm, không để cho binh mã lui về phía sau, khiến cho quân Hán tiến vào nước Triệu không được, lùi trở về cũng không xong, tiến thoái lưỡng nan. Không tới 10 ngày, quân Hán sẽ tự tan vỡ. Nhưng Trần Dư lại cho rằng: “Quân đội chính nghĩa không cần đến mưu lừa gạt và kế lạ”. Vì vậy mà kiến nghị của Lý Tả Xa đã bị gạt sang một bên.

Hàn Tín biết được việc này thì trong lòng mừng rỡ, lập tức hành động. Lúc nửa đêm, chọn lấy 2000 kỵ binh mang theo cờ đỏ của quân Hán, ẩn nấp ở gần doanh trại của quân Triệu, lại ra lệnh cho binh lính còn lại trước tiên ăn uống, chuẩn bị xuất phát, cũng nói với mọi người là sẽ đánh bại quân Triệu và quay trở lại ăn sáng tiếp.

Nghe được mệnh lệnh của đại tướng quân, quân sĩ đều thất kinh, lúc ấy quân Hán chỉ có 3 vạn nhân mã, làm sao mà đánh bại được 20 vạn quân Triệu? Hơn nữa còn nói đánh giặc xong lại quay về ăn sáng! Đại tướng quân chẳng phải đang nói lời mê sảng hay sao?

Hàn Tín không có để tâm đến ánh mắt nghi ngờ của các tướng sĩ, ông chỉ huy một vạn binh sĩ trước tiên từ hẻm Tỉnh Hình đi vào, đóng trại ở sông Bối Thủy. Ông đoán được kế của Trần Dư là muốn tóm gọn quân Hán, vì vậy ông ta sẽ không đến quấy rối trừ khi ông ta nhìn thấy toàn bộ quân Hán. Tình huống quả nhiên như Hàn Tín dự đoán, một vạn binh sĩ thuận lợi mà nghỉ ngơi.

Sau khi trời sáng, Hàn Tín gióng trống khua chiêng tiến vào hẻm Tỉnh Hình, bày trận bên bờ sông Bối Thủy, sau đó khiêu chiến với quân Triệu. Trần Dư thấy quân Hán ít người, tự mình lại chiếm địa hình ưu thế “dựa vào núi đối diện sông”, vì vậy dẫn quân tinh nhuệ kéo ra. Hai bên giao chiến một chặp, Hàn Tín giả bộ thua chạy, trống trận và cờ xí cũng không kịp mang. Trần Dư thấy vậy, càng thêm nắm chắc phần thắng, lập tức hạ lệnh toàn quân xuất kích, bắt sống Hàn Tín. 2000 quân Hán mai phục cạnh doanh trại quân Triệu thừa cơ xông vào đổi hết cờ thành cờ đỏ của quân Hán.

Bên này, Hàn Tín và một vạn quân sĩ bên bờ sông tập trung lại, cùng giao chiến với quân Triệu ở bên bờ sông Bối Thủy. Bởi vì không có đường lui, quân Hán liều chết xông lên. Hai bên giao chiến hơn nửa ngày nhưng bất phân thắng bại. Quân Triệu thấy đánh lâu không thắng được, muốn thu quân trở về doanh trại. Quay đầu nhìn lại, phát hiện cờ ở doanh trại toàn là của quân Hán, cho rằng quân Hán đã chiếm doanh trại của họ, nhất thời lòng quân hoảng loạn, đội ngũ tan rã, binh sĩ bỏ chạy thoát thân. Lúc này chủ lực của quân Hán đã chạy lui ra bờ sông quay đầu phản kích, cùng với 2000 binh sĩ thừa cơ giáp công, đánh bại quân Triệu. Trần Dư tử trận, Triệu Vương Hiết và Lý Tả Xa bị bắt sống. Địa bàn nước Triệu đã bị quân Hán chiếm hữu.

Sau khi trận chiến kết thúc, các tướng sĩ hỏi Hàn Tín, trong binh thư nói dàn trận thì “dựa lưng vào núi, đối mặt là nước”, mà tướng quân lại hạ lệnh bày trận ở sông Bối Thủy, cuối cùng lại giành thắng lợi, đạo lý là ở đâu?

Hàn Tín cười nói: “Trong binh thư có câu: ‘Rơi vào tử địa rồi mới sinh, mặc kệ đất chết mà lại sống’, quân đội này là lính mới, chỉ có đặt họ vào thế phải chết, thì mới khiến cho mọi người vì mạng sống của mình mà chiến đấu. Nếu không, một khi khai chiến họ sẽ bỏ chạy, quân lính tan rã”. Mọi người lúc này mới hiểu ra Hàn Tín là cao thủ dùng binh, dùng kế khác thường.

Hàn Tín vô cùng bội phục kiến thức của Quảng vũ quân Lý Tả Xa, khi Lý Tả Xa bị dẫn đến doanh trại của quân Hán, Hàn Tín tự mình mở trói cho ông, nhận lỗi và mời ông ngồi ở hướng Đông, tự mình ngồi ở phía Tây như học trò, xin được Lý Tả Xa chỉ bảo cho cách để thảo phạt nước Yên và nước Tề. Lý Tả Xa khiêm tốn nói: “Bại tướng không thể nói mạnh; đại phu mất nước không thể bày mưu sống’. Tôi là tù binh của ngài, có tư cách gì mà cùng ngài thảo luận mưu kế?”

Hàn Tín vội nói: “Thời kỳ Xuân Thu, Bách Lý Hề trước tiên làm quan ở nước Ngu, về sau nước Ngu bị diệt, ông được Tần Mục Công dùng 5 tấm da dê chuộc về, làm đại phu nước Tần, trợ giúp Tần Mục Công thực hiện mưu lược xưng bá chư hầu. Cũng không phải là Bách Lý Hề ở nước Ngu ngu xuẩn, đến nước Tần trở thành có tài năng, cũng không phải là ông ấy không chịu tận lực vì nước Ngu, mà lại hết lòng với nước Tần, mà là quốc quân nước Ngu không muốn nghe kiến nghị của ông, còn Tần Mục Công lại tiếp nhận những diệu kế của ông. Nếu Trần Dư chịu nghe kế của tiên sinh, thì người phải làm tù binh chính là Hàn Tín tôi đây. Chính vì ông ấy không có dùng kế sách của ngài, nên mới bại dưới tay tôi, tôi mới có cơ hội được xin ngài chỉ giáo”.

Lý Tả Xa thấy Hàn Tín đối xử chân thành như vậy, lòng rất cảm động, nghiêm túc phân tích tình thế: Kẻ trí suy nghĩ ngàn điều, tất có một điều sai, kẻ ngốc suy nghĩ ngàn điều, tất có một điều đúng. Trần Dư đã tham chiến từ lâu, lần này cho rằng có kế sách vẹn toàn, một khi thất thủ kết quả chính là quân đội thua trận, bản thân bỏ mình.

Tướng quân ngài bắt tù binh Ngụy Báo, bắt sống Hạ Thuyết, đánh một trận hạ Tỉnh Hình, trong một ngày diệt 200.000 quân Triệu tinh nhuệ, danh tiếng vang khắp bốn bể, uy chấn thiên hạ. Đây là ưu thế của tướng quân. Nhưng quân đội của tướng quân đã mệt mỏi, sợ khó mà có thể chiến đấu tiếp, đây là điểm yếu của tướng quân.

Nếu để cho quân mệt mỏi đi tấn công thành kiên cố, quân mạnh mẽ của nước Yên thì khó mà tốc chiến tốc thắng. Nếu kéo dài thì cũng không thể giành thắng lợi, sĩ khí tất nhiên sẽ bị suy giảm, lương thảo cung cấp cũng sẽ có vấn đề. Nước Yên tuy nhỏ nhưng cũng không dễ hạ, so với nước Yên thì nước Tề lại càng khó khuất phục.

Cách tốt nhất là án binh bất động, trước tiên trấn an nước Triệu, khoản đãi ba quân, nghỉ ngơi dưỡng sức. Chờ sau khi nước Triệu bình ổn, lúc đó mới dời quân đội lên phía Bắc, chuyển hướng sang nước Yên. Lúc đại quân áp sát thì phái một biện sĩ có tài ăn nói đi trước để khuyên hàng, nói rõ quan hệ lợi hại, với danh tiếng hiển hách của tướng quân, nước Yên không thể không hàng. Sau đó lại dùng uy thế đi thuyết phục nước Tề, nước Tề tất nhiên cũng sẽ cân nhắc đến việc quy thuận.

Hàn Tín nghe vậy không khỏi khen hay, lập tức sai sứ giả đi đến nước Yên, đưa thư cho Yên vương, nói rõ lợi hại và khuyên quy hàng. Yên vương khiếp sợ uy danh của Hàn Tín, quả nhiên chấp nhận đầu hàng.

Thần đoạt ấn tướng

Sau khi Hàn Tín ở phương Bắc tiếp tục giành được thắng lợi, hình thế chiến trường đã bắt đầu có lợi cho quân Hán, Hạng Vũ rất căng thẳng, thường xuyên phái binh đi quấy rối biên giới nước Yên và nước Triệu. Hàn Tín thường xuyên lui tới để đánh đuổi quân Sở, vỗ yên dân chúng, đồng thời huấn luyện, chiêu mộ tân binh, tiếp viện cho chiến trường chính của Lưu Bang.

Cùng lúc đó, ở đất Triệu và Đại cũng thường phát sinh chiến sự lẻ tẻ, để tiện cho việc quản lý, Hàn Tín đề cử với Lưu Bang để lập Trương Nhĩ làm Triệu vương. Kỳ thực theo như công trạng của Hàn Tín, xin được làm vương cũng là điều hợp lý. Trương Nhĩ là bạn cũ của Lưu Bang, rất được ông tín nhiệm, thêm việc Lưu Bang đang bị Hạng Vũ ép cho không thở nổi, cho nên rất vui mừng đáp ứng thỉnh cầu của Hàn Tín.

Hàn Tín đánh nước Đại và phá nước Triệu cùng lúc, Hạng Vũ bắt đầu phản công Lưu Bang với quy mô lớn. Lưu Bang đương nhiên không phải là đối thủ của Hạng Vũ, quân Sở dễ dàng đoạt lấy toàn bộ cứ điểm của quân Hán ở phía Đông Huỳnh Dương, cắt đứt con đường vận lương của Huỳnh Dương, vậy chặt lấy Huỳnh Dương. Việc bao vây này diễn ra hơn 1 năm.

Lưu Bang đánh giặc không giỏi nhưng lại có một cách bảo toàn tính mạng. Ông trước tiên kêu gọi Anh Bố đầu hàng, sau lại cho Trần Bình 40.000 vàng, để ông ta ly gián Hạng Vũ và đại tướng Chung Ly Muội, Long Thả… khiến mưu sĩ được tín nhiệm nhất của Hạng Vũ là Phạm Tăng cũng tức giận bỏ đi, nhưng Huỳnh Dương vẫn bị bao vây. Lưu Bang cuối cùng dùng kế trá hàng, dùng tướng quân Kỷ Tín giả trang thành chính mình, còn bản thân thì nhân lúc rối loạn mà bỏ trốn.

Hạng Vũ sau khi đoạt lại Huỳnh Dương thì thừa thắng truy kích, lại thu phục được thị trấn quan trọng Thành Cao. Lưu Bang thì rút về phía nam Vũ Quan, chỉ có thể phòng thủ chứ không dám ra khiêu chiến, đồng thời liên tục thỉnh cầu Bành Việt quấy rầy Hạng Vũ ở phía sau. Bành Việt đánh tới gần Bành Thành, trực tiếp uy hiếp kinh đô nước Sở.

Hạng Vũ buộc phải điều quân trở về, lúc này áp lực của Lưu Bang mới giảm bớt, nhân cơ hội chiếm lại Thành Cao và Huỳnh Dương. Hạng Vũ sau khi đánh bại Bành Việt thì quay lại Huỳnh Dương tấn công Lưu Bang, không tới một tháng đã khắc chế được Huỳnh Dương và Thành Cao. Trước khi phá Thành Cao, hai người Lưu Bang và Hạ Hầu Anh đã bỏ trốn.

Lưu Bang thế cùng lực kiệt bị Hạng Vũ làm cho khiếp sợ, nhưng chạy tới nơi nào mới an toàn đây? Ông nhớ tới quân của Hàn Tín đóng tại Tu Vũ.

Hàn Tín sau khi thu phục nước Yên, lập kế hoạch tiến về nước Tề. Bởi vì Lưu Bang không ngừng bại trận tại chiến trường chính, Hàn Tín để cho tiện việc chỉnh huấn binh sĩ chi viện cho Lưu Bang, đã lựa chọn Tu Vũ làm căn cứ địa, nơi này tương đối gần với chiến trường của Lưu Bang.

Nhớ đến Hàn Tín, Lưu Bang tâm tình hết sức phức tạp. Một mặt là dựa vào sự chèo chống của Hàn Tín, ông mới có thể nhiều lần cải tử hoàn sinh, đúng là vô cùng may mắn; mặt khác, Hàn Tín chỉ có vẻn vẹn 3 vạn binh mã mà chinh phục chư hầu phương Bắc, trong khi đó Hán vương càng đánh càng thua, mặt mũi biết để vào đâu? Bây giờ Hàn Tín đã có binh mã hơn 10 vạn, trong khi Lưu Bang chỉ còn lại một người một xe, vừa muốn có quân cứu viện, vừa không muốn mắc nợ Hàn Tín, ông trầm tư suy nghĩ, lập kế hoạch “thần đoạt ấn tướng”.

Tháng 6 năm Hán Cao Tổ thứ tư (năm 203 TCN), Lưu Bang cùng Hạ Hầu Anh chật vật bỏ trốn từ Thành Cao, một đường dãi gió dầm sương, chạy tới Tu Vũ, nơi đóng quân của Hàn Tín. Nhưng vì tính đa nghi nên ông không tới trại của Hàn Tín để gặp Hàn Tín, Trương Nhĩ, mà lặng lẽ nghỉ ở dịch trạm.

Sáng sớm ngày hôm sau, thừa cơ Hàn Tín và Trương Nhĩ vẫn còn ngủ say, ông ngụy trang thành sứ giả của Hán vương, lẻn vào trong trướng của Hàn Tín, lấy cắp binh phù, thẻ lệnh, ấn tướng của Hàn Tín và Trương Nhĩ, đoạt lấy binh quyền trong tay của hai người. Sau đó triệu tập các tướng, sắp đặt lại vị trí của họ, xong xuôi hết mới an tâm gọi Hàn Tín và Trương Nhĩ dậy.

Hàn Tín và Trương Nhĩ vội vàng chỉnh tề y phục đi ra gặp mặt. Lưu Bang phong Hàn Tín làm tướng quốc, yêu cầu huấn luyện những thanh niên ở đất Triệu thành một đội quân mới để tấn công nước Tề; lệnh cho Trương Nhĩ quản lý nước Triệu, Đại, còn bản thân Lưu Bang thì dẫn đại quân của Hàn Tín đi giải cứu chiến trường chính. Dựa vào đại quân của Hàn Tín và sự trợ giúp của Bành Việt ở phía sau, Lưu Bang cuối cùng đã đoạt lại được Huỳnh Dương và Thành Cao.

Tiểu Phàm biên dịch
Theo Epochtimes

About Đào Thanh Mai

Sứ mệnh của tôi là cùng với Dịch vụ Hòn Ngọc tạo ra không gian sống tích cực, tràn đầy năng lượng và mang lại niềm an ổn cho mọi người. Sự đam mê của tôi bắt nguồn từ sự hiểu biết sâu rộng về tác động của môi trường xung quanh lên tâm hồn và tâm trạng con người. Với kiến thức chuyên sâu và lòng tận tụy, tôi đã biên tập nhiều bài viết tư vấn về vật phẩm phong thủy hiệu quả cho hàng nghìn khách hàng, giúp họ đạt được sự cân bằng và thịnh vượng trong cuộc sống.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *